Đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh

Phát triển theo mô hình tập đoàn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tham gia vào các thị trường hay linh vực kinh doanh hoàn toàn mới, khác biệt, có thể không liên quan đến “các hoạt động chủ đạo” của doanh nghiệp. Quyết định này của các nhà quản lý nhằm giảm rủi ro theo nguyên tăc tài chính và quản trị danh mục đầu tư (portfolio management): “không nên để tất cả các quả trứng trong cùng một rổ”. Thông qua việc đầu tư vào nhiều linh vực, có chu kỳ kinh doanh khác nhau, nhà quản lý có thể bù trừ, thao túng kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp, qua đó đảm bảo, trong mọi hoàn cảnh, một kết quả ổn định và mức lợi tức tối thiểu ở mức chấp nhận được đối với các cổ đông. Mặt khác, tiền lương, thưởng, ưu đãi (dưới dạng “quyền chọn mua bán cổ phiếu – stock options”, “cổ tức chia thêm” và các khoản thù lao phụ khác) của nhà quản lý thường gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, vốn thường rất lớn đối với các tập đoàn. Điều này ngược với mục đích và gây thiệt hại cho các cổ đông, vì sự bù trừ giữa các hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, tăng lương thưởng của nhà quản lý cũng đồng nghĩa với việc tỉ suất lợi nhuận và lợi tức của doanh nghiệp không đạt mức tối đa hóa.

Ở chiều ngược lại, các cổ đông cũng có thể giảm rủi ro đầu tư theo nguyên tăc tài chính và quản trị danh mục đầu tư (portfolio management), bằng cách tự đầu tư vào nhiều doanh nghiệp khác nhau, hoặc buộc doanh nghiệp đầu tư vào các doanh nghiệp, dự án khác, theo họ là có tiềm năng và làm tăng giá trị cổ phiếu. Tuy nhiên, điều này có thể sẽ đe dọa đến vị trí và an toàn nghề nghiệp của nhà quản lý, ví dụ trong trường hợp hợp nhất doanh nghiệp, giám đốc sẽ là người khác hay quy mô doanh nghiệp vượt tầm hạn quản lý của nhà quản lý. Vì vậy, nhà quản lý sẽ cân nhắc rất kỹ khi quyết định mở rộng quy mô hay đa dạng hóa ngành nghề trên nguyên tắc tối đa hóa tiện ích của mình.

Phân tích sâu vào các loại hình đa dạng hóa, quyết định của nhà quản lý theo một trong hai hướng:

  • Phát triển những hàng hóa dịch vụ mới, không có hay chưa có sản phẩm thay thế (differentiation), từ đó tạo ra thị trường mới cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh thu của doanh nghiệp biến động theo hai hướng:
    • Doanh số bán tăng trong giai đoạn giới thiệu sản phẩm, chủ yếu do khách hàng dùng thử sản phẩm mới. Tiếp theo, tăng trưởng giảm dần đến khi khách hàng nhận thấy sản phẩm không đáp ứng đúng nhu cầu họ. Sau cùng, doanh số giảm mạnh và sản phẩm được rút khởi thị trường.
    • Sau giai đoạn đầu thử nghiệm, doanh số bán tăng mạnh do sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng. Khi thị trường bão hòa, doanh số bán vẫn tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn.

Trên thực tế, loại hình đa dạng hóa này thường không được các nhà quản lý ưu tiến do phải đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Bởi vì đầu tư này mang tính dài hạn, ngược với quỹ thời gian giới hạn chế của nhà quản lý; và đặc biệt tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể không mang lại hiệu quả mong muốn, làm mất uy tín và làm ảnh hưởng tới sự nghiệp của nhà quản lý. Ngược lại đối với các cổ đông, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lại đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và lợi tức của họ trong dài hạn. Đây cũng là một vấn đề lớn, tiềm ẩn phát sinh trong dài hạn giữa nhà quản lý và cổ đông.

  • Phát triển những hàng hóa dịch vụ đã tồn tại trên thị trường (imitation), khi đó doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc ít nhiều vào các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trong trường hợp này, tăng trưởng doanh thu, gắn liền với tăng trưởng tổng cầu của doanh nghiệp, sẽ được quyết định bởi hai yếu tố sau:
    • Số lượng sản phẩm mới đưa vào thị trường trong một giai đoạn nhất định, gọi là hệ số đa dạng hóa d (diversification rate), hệ số này tăng đồng nghĩa với tổng cầu và doanh thu của doanh nghiệp tăng.
    • Hệ số thành công k bằng tỉ lệ giữa số sản phẩm thành công trên tổng số sản phẩm mới đưa vào thị trường. Hệ số này có thể tăng tùy theo mức độ rào cản thị trường, chiến lược giá thấp, chi phí quảng cáo lớn, tiếp thị bán hàng … Do vậy, nó phụ thuộc vào mức lợi nhuận mong muốn m (profit margin), tính bằng tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và tổng thu nhấp đối với mỗi sản phầm mới. Đồng thời, hệ số k giảm nếu hệ số đa dạng hóa d tăng vì trên thực tế, d càng tăng, nguồn lực và phương tiện sẵn có, vốn giới hạn, của doanh nghiệp, khi phân bổ để phát triển mỗi sản phẩm mới sẽ giảm, cơ hội thành công thấp cũng giảm dần.

Hệ số thành công k tăng khi độ chênh lệch lợi nhuận m và tỷ lệ đa dạng hóa d giảm, thể hiện qua công thức :

k = k (m,d); δk/δm < 0; δk/δd < 0

Tốc độ tăng trưởng cầu tổng thể cD của doanh nghiệp do vậy biến đổi theo quan hệ sau :

cD = c(k(m,d),d) = f(m,d); δcD/δm < 0; δcD/δd < 0

Từ đó suy ra, d tăng sẽ dẫn tới tăng mạnh cD, đồng nghĩa với tổng doanh thu của doanh nghiệp cũng sẽ tăng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *