Tổng quan về học thuyết ra quyết định cá nhân (individual decision-making theory)

Các nghiên cứu trước đây về con người và tâm lý học đã hình thành 3 nhánh của học thuyết ra quyết định cá nhân của con người (individual decision-making theory), bao gồm: (i) học thuyết quyết đinh tiêu chuẩn (normative), (ii) học thuyết quyết định mô tả (descriptive), và (iii) học thuyết ra quyết định quy định (prescriptive decision-making theory).

1. Học thuyết ra quyết đinh tiêu chuẩn

Theo học thuyết ra quyết định tiêu chuẩn (Normative Decision Theory), ra quyết định không phải là một hoạt động tự nhiên, đây là hành động có ý chí dựa trên các quy định, quy tắc và tiêu chuẩn. Theo lý thuyết này, bản chất của tính hợp lý, logic của quá trình ra quyết định được xác định bởi các tiện ích (utility) đem lại. Tiện ích là khả năng đáp ứng các mức độ mong muốn hoặc mức độ hài lòng của các hành động thực tiễn xuất phát từ các quyết định. Tiện ích giả định có hai biến số có liên quan, bao gồm: (i) sức mạnh của niềm tin (xác suất) (the strength on one’s belief’s) và (ii) các kết quả mong muốn (Goldstein và Hogarth, 1997). Chức năng tiện ích cho phép nhà quản lý đưa ra các dự kiến ​​cho một loạt các kết quả có thể xảy ra.

Để xây dựng chức năng tiện ích, cá nhân ra quyết định cần xây dựng các giả định về nhu cầu hoặc các khả năng có thể xảy ra và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định. Theo đó, các quyết địn phải đảm bảo có các yếu tố như: tính đầy đủ (completeness), tính chuyển tiếp (transitivity), tính liên tục (continuity), tính đơn giản (monotinicity) và tính độc lập (independence). Các kết quả và các tiện ích các quyết định có thể có một hoặc nhiều thuộc tính trên.

2. Học thuyết ra quyết định mô tả

Học thuyết ra quyết định mô tả (Descriptive Decisions Theory) tập trung phân tích nguyên nhân cá nhân ra quyết định và cách thức triển khai quyết định đó trên thực tế.

2.1. Thuyết triển vọng

Năm 1979, Kahneman và Tversky đề xuất thuyết triển vọng (Prospect Theory), trong đó tập trung vào cách thức các tổ chức và cá nhân đánh giá lợi ích và thiệt hại. Theo lý thuyết, nếu một cá nhân được nhận 2 lựa chọn ngang nhau, trong đó một lựa chọn nhấn mạnh tới lợi ích và lựa chọn còn lại nhấn mạnh đến rủi ro, thì cá nhân đều có xu hướng sử dụng các lựa chọn đầu tiên. Lý thuyết triển vọng là một trong những phân tích mô tả. Lý thuyết tập trung xác định sự khác biệt trong cách tiếp cận các tiện ích dự kiến đồng thời đề xuất một cách tiếp cận dự đoán tốt hơn các hành vi trên thực tế. Lý thuyết triển vọng có ý nghĩa đóng góp quan trọng cho lĩnh vực kinh tế cổ điển.

Tương tự như lý thuyết tiện ích dự kiến,​​ lý thuyết triển vọng chủ yếu tập trung vào kết quả của các quyết định, hoặc “một số thứ như tiện ích” (something like utility) và “xác suất chủ thể” (“subject probability”). Ý tưởng trung tâm của lý thuyết triển vọng là “các giá trị như những thay đổi về lợi ích hoặc tổn thất liên quan đến một điểm tham chiếu” (Kahneman và Tverskey, 1979).

2.2. Thuyết phán xét xã hội

Lý thuyết phán xét xã hội (Social Judgment Theory) là một trong những đóng góp ý nghĩa của tâm lý học tới lý thuyết quyết định. Lý thuyết tập trung phân tích cách thức xử lý các tín hiệu, thông của các cá nhân trong tổ chức trong việc ra quyết định. Không giống như lý thuyết tiện ích hay lý thuyết triển vọng, Lý thuyết phán xét xã hội không tập trung tới các kết quả có thể xảy ra trong tương lai của các quyết định. Bởi vì, với cùng một tình huống, mỗi cá nhân sẽ có lựa chọn các tín hiệu khác nhau hoặc tích hợp chúng một cách khác nhau (Yates và Zukowski, 1976).

2.3. Ra quyết định tự nhiên

Để có thể đưa ra quyết định quyết định hợp lý, Gigerenzer (2001) đưa ra một “hộp công cụ thích nghi” (adaptive toolbox), và một loạt các quy tắc bao gồm các quy tắc tìm kiếm (search rules), các quy tắc ngăn chặn (stopping rules) và các quy tắc quyết định (decision rules).

Theo Klein (1999), trong những tình huống đặc biệt, khi các quyết định được xây dựng trong điều kiện khó khăn, áp lực thời gian cao, bối cảnh phức tạp, các cá nhân ra quyết định có khả năng “mô phỏng tinh thần” (mental simulations), tức là “xây dựng một chuỗi ảnh chụp nhanh để phát và quan sát những gì xảy ra” (Klein, 1999). Đây là quá trình ra quyết định tự nhiên trong tổ chức (Naturalistic Decision Making) nhằm giải quyết nhanh chóng các vấn đề tồn tại đang diễn ra. Cách thức này cũng cho phép tổ chức nhìn nhận vấn đề một cách bao quát, toàn diện.

3. Học thuyết ra quyết định quy định

Học thuyết ra quyết định quy định (Prescriptive Decision Making) có liên quan đến khả năng áp dụng thực tế lý thuyết về nguyên tắc ra quyết định và cách thức triển khai các quyết định trên thực tế. Lý thuyết tập trung phân tích các quyết định trên các phương diện như phương pháp và thực tiễn triển khai. Phân tích quyết định cho phép nhà ra quyết định “chính thức hóa các vấn đề về quyết định” (Keeney, 1982). Phân tích quyết định bao gồm việc thiết kế các lựa chọn thay thế – nhiệm vụ, cân bằng hợp lý một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định như kỹ thuật, kinh tế, môi trường, khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, theo Howard (2004) “Mục tiêu tổng thể của việc phân tích quyết định là cái nhìn sâu sắc, chứ không phải số lượng” (trang 184).

Có bốn phương pháp quy định, bao gồm: (i) phương pháp của AHP (Analytic Hierarchy Process) (Saaty, 1986); (ii) Phương pháp của Ron Howard; (iii) Phương pháp Giá trị suy nghĩ tập trung của Keeney (Keeney, 1992), và (iv) lựa chọn thực (Brach 2003).

3.1. Quy trình phân cấp phân tích

Phương pháp tiếp cận AHP (Analytic Hierarchy Process) so sánh mức độ, cũng như điểm mạnh, yếu của các lựa chọn. Quá trình phân cấp phân tích (AHP) là phương pháp dựa trên ba nguyên tắc giải quyết vấn đề trong quá trình ra quyết định, bao gồm: (i) phân tích (decomposition), phán đoán so sánh (comparative judgments), và tổng hợp các lựa chọn ưu tiên (synthesis of priorities) (Saaty 1986). Nguyên tắc phân tích cho phép tổ chức xác định tất cả các vấn đề trong quá trình ra quyết didjnh. Nguyên tắc đối chiếu so sánh yêu cầu phải so sánh theo cặp, đồng thời sử dụng các tỷ lệ nhất định để xác định mức độ ưu tiên các lựa chọn trong hệ thống phân cấp. Nguyên tắc tổng hợp ưu tiên được áp dụng như sau (Forman và Gass, 2001):

(1) cho i = 1,2, …, mục tiêu m, xác định trọng lượng tương ứng wi,

(2) cho từng mục tiêu i, so sánh j = 1,2, …, n lựa chọn thay thế và xác định mục tiêu trọng lượng wij wrt của lựa chọn i

(3) xác định trọng lượng thay thế cuối cùng (ưu tiên) WJ wrt tất cả các mục tiêu của WJ = w1jw1 + w2jw2 + … + wmjwm. Các lựa chọn thay thế sau đó được lệnh của Wj

Phương pháp AHP được sử dụng rộng rãi, thay thế cho lý thuyết tiện ích dự kiến trong hoạt động ra quyết định (Forman và Gass, 2001). Tuy nhiên, trong phương pháp AHP, có thể xảy ra tình trạng thay đổi các quy chuẩn ban đầu và mâu thuẫn trong thứ bậc ra quyết định.

3.2. Quan điểm tiêu chuẩn Stanford

Howard (1966) đặt ra “Quyết định phân tích (Decision analysis)” nhằm phân tích quyết định trên hai cơ sở: một bộ nguyên tắc bất khả xâm phạm và phương thức phân tích quyết định. Theo quan điểm tiêu chuẩn Stanford (Stanford Normative School), các phương thức tồn tại lặp lại theo Chu kỳ Phân tích Quyết định (the Decision Analysis Cycle) với 3 ba giai đoạn cụ thể.

Giai đoạn đầu (xác định) liên quan đến cấu trúc các vấn đề. Các biến quyết định được xác định, mối quan hệ giữa các biến này được được thể hiện thông qua các mô hình chính thức.

Đến giai đoạn thứ hai, tổ chức xác định giá trị và trọng số các lực chọn. Tầm quan trọng của mỗi biến quyết định được đo bằng phân tích độ nhạy cảm. Trong phương pháp này các biến số ban đầu được xem xét có vai trò rất quan trọng.

Trong giai đoạn thứ ba (giai đoạn thông tin), kết quả của hai giai đoạn đầu tiên được xem xét để xác định liệu có cần thêm thông tin hay không. Nếu như không đủ thông tin, quá trình sẽ được lặp lại từ đầu.

3.3. Tư duy tập trung giá trị

Phương pháp tiếp cận theo định hướng tư duy tập trung giá trị (Value Focused Sinking – VFT) thay đổi quyết định thông qua phân tích các lựa chọn thay thế cho các giá trị cao hơn cho doanh nghiệp. Trong VFT, giá trị là yếu tố quan tâm hàng đầu của nhà ra quyết định (Keeney, 1994).

Các giá trị được xem xét dựa trên những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra của các quyết định (Kahneman và Tversky, 1979). Dựa vào các giá trị, các tổ chức đưa ra các giả định quyết định có thể tối đa hóa lợi ích thu về. Các giả định lý thuyết của VFT được tìm thấy trong lý thuyết tiện ích dự kiến ​​và lý thuyết về các tiện ích đa phương tiện và từ cá các tiên đề từ lý thuyết quyết định có tính quy tắc.

3.4. Lựa chọn thực

Myers (1977) đưa ra thuật ngữ thực sự lựa chọn (Real Option) trong nghiên cứu của mình. Trong tổ chức, sự lựa chọn không phải là một nghĩa vụ phải hành động, đây là quyền của các cá nhân trong tổ chức. Các lựa chọn đem lại cho người quyết định các giá trị lợi ích hoặc giảm thiểu các tiêu cực thông qua các kết quả từ sự lựa chọn của mình. Sự lựa chọn được sử dụng phù hợp với tài sản thực, chứ không phải các công cụ tài chính có thể được trao đổi trong các thị trường.

Không giống như các kỹ thuật truyền thống, lựa chọn thực tế là phương pháp đầu tư linh hoạt. Một lựa chọn thực sự là kết quả của một chuỗi các đánh giá trong suốt quá trình ra quyết định. Có rất nhiều kỹ thuật đánh giá trong quá trình lựa chọn. Tuy nhiên, các hệ lụy về quản lý đối với các lựa chọn thực tế vẫn không hề nhỏ. Quá trình này đòi hỏi phải được quản lý, giám sát theo đúng tính linh hoạt của phương pháp.

Tóm lại, các lựa chọn đại diện cho một hướng mới trong phân tích quyết định, góp phần cho phép các tổ chức hạn chế tối đa các rủi ro, đồng thời khiến các quyết định trở nên linh hoạt, dễ dàng ứng phó với các thay đổi trong môi trường.

4. Mô hình chuẩn tắc hỗn hộp

Mô hình chuẩn tắc hỗ hộp (canonical normal form) được sử dụng rộng rãi trong cá nghiên cứu về hoạt động ra quyết định của tổ chức (Simon, 1997; Keeney, 1994). Theo mô hình này, hoạt động đưa ra quyết định của tổ chức bao gồm bảy bước: Công nhận rằng có vấn đề hoặc các cơ hội; Xác định vấn đề hoặc cơ hội; Xác định các mục đích và mục tiêu; Tạo ra các lựa chọn khác; Phân tích các lựa chọn khác; Lựa chọn một giải pháp thay thế; và Quyết định.

 

Nguồn: Phan Thanh Tú, Vũ Mạnh Chiến, Phạm Văn Kiệm, Lưu Đức Tuyến, Nguyễn Thị Hồng Nga (2018), Học Thuyết Doanh Nghiệp, NXB Lao Động – Xã Hội, trang 234-239.