Bàn tay vô hình và kết quả không mong đợi

  Bàn tay vô hình và kết quả không mong đợi

   1. Khái niệm và bản chất kết quả không mong đợi

“Hậu quả không mong đợi của con người” là những kết quả không được con người mong muốn tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, để hiểu được chính xác ý nghĩa khái niệm này cần phân biệt rõ 3 vấn đề, cụ thể :

Thứ nhất, khái niệm về “mong đợi (intention)”: Mong đợi của một cá nhân thể hiện mục đính hoặc kế hoạch nhất định của cá nhân đó. Tuy nhiên, theo (Keller,1994, trang 11): “Mặc dù, mong đợi chỉ ra rằng mỗi cá nhân phải có một mục đích, nhưng không cần thiết phải có một kế hoạch. Đơn giản, các cá nhân có thể không có kế hoạch để thực hiện một vấn đề, nhưng họ vẫn có mục đích”. Quan điểm một lần nữa khẳng định “sự mong đợi” là mục đích của một cá nhân, chứ không phải là một kế hoạch cụ thể.

Thứ hai, khái niệm về “hậu quả (consequence)”: Một cách chung nhất, hậu quả là kết quả của một hành động ngoài ý muốn. Trong tác phẩm Những hậu quả không mong đợi của các hành động xã hội có chủ định – The Unanticipated Consequences of Purposive Social Action, Merton (1936) đã đưa ra giới hạn “hậu quả” của một hành động như sau: “Nói một cách chặt chẽ, hậu quả của hành động có chủ ý được giới hạn bởi các yếu tố trong bối cảnh xảy ra, thường duy nhất và phát sinh từ các hành động liên quan; tức là, các yếu tố đó sẽ không xảy ra nếu hành động không diễn ra”(trang 895). Trong đó, “kết quả” (result) được Keller (1994) định nghĩa như sau: “Kết quả của một hành động “A” là một sự kiện diễn ra do hành động đó được cho rằng đã thực hiện xong” (Keller, 1994, trang 64). Như vậy, kết quả của một ý định cá nhân bất kỳ nên cân nhắc dựa trên các hành động mà cá nhân thực hiện.

Thứ ba, khái niệm “hậu quả không mong đợi (unintended consequence)”: Thực tế, hậu quả không mong đợi xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các nguyên nhân này hạn chế kết quả mong muốn, đồng thời gây cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu của mình, Merton (1936) đã sử dụng “hậu quả không mong đợi (unanticipated consequences)” thay thế cho “hậu quả không mong đợi (unintended consequence)”, và cho rằng tất cả hậu quả không mong đợi của một cá nhân đều là những thứ nằm ngoài mong đợi. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có trường hợp hậu quả là kết quả mong muốn xảy ra nhưng chưa được dự tính; và ngược lại, có những trường hợp hậu quả được dự tính sẵn nhưng lại không xảy ra như mong đợi. Như vậy, hậu quả do “bàn tay vô hình” gây ra có thể có hoặc không được dự đoán trước đó.

“Hậu quả xã hội không mong đợi” có một số đặc trưng như sau:

  • Hậu quả được xác định ở cấp độ xã hội;
  • Hậu quả không phải là sự mong đợi của bất kỳ cá nhân nào;
  • Hậu quả không mong đợi ở cấp độ xã hội do những cá nhân không mong muốn thay đổi hoặc gây ra (đây là bước đầu tiên để phân biệt các hậu quả của bàn tay vô hình với hậu quả xã hội không mong đợi);
  • Hành vi của một cá nhân không đủ để tạo ra hậu quả (xã hội) không mong đợi;
  • Các cá nhân không theo đuổi cùng một mục đích chung (tức mong muốn tập thể bị loại trừ);

Như vậy, hậu quả xã hội không mong đợi là tập hợp vô số các hành động ngoài ý muốn của cá nhân.

   2. Các loại kết quả không mong đợi

Merton (1936) liệt kê một số yếu tố có thể gây ra kết quả không mong đợi đối với các doanh nghiệp, như “thiếu hiểu biết (ignorance)”, “sai sót (error)” và “lợi ích trước mắt (imperious immediacy of interests)”. Đồng thời, tác giả cũng phân loại các hậu quả không mong đợi: “Những hậu quả tổng thể hoặc cụ thể này có thể được phân chia thành (a) hậu quả đối với (các) tác nhân, (b) hậu quả đối với những người trung gian khác thông qua (1) cấu trúc xã hội, (2) văn hoá và (3) nền văn minh”(Merton, 1936, trang 895). Các hành động được phân thành hai loại: “(a) không tổ chức – unorganized và (b) có tổ chức chính thức – formally organized” (Merton, 1936, trang 896).

Cách phân loại này phân biệt giữa hậu quả không mong đợi do hành động cá nhân và hậu quả không mong đợi do hành động xã hội. Trong đó, “Xã hội” ở đây đơn giản có nghĩa là tập thể: một hiện tượng được coi là xã hội nếu liên quan đến nhiều tác nhân là con người mà các hành động hoặc kế hoạch của họ có liên quan đến nhau” (Collin, 1997, trang 5) và hành động thực hiện có thể có hoặc không tuân theo các quy định của một doanh nghiệp nhất định.

Như vậy, trên thực tế, có nhiều hành động có thể gây ra hậu quả không mong đợi, bao gồm hành động có tổ chức và hành động phi tổ chức, hoặc hành động cá nhân và hành động xã hội.

   3. Bàn tay vô hình và kết quả không mong đợi

Hậu quả do bàn tay vô hình gây ra được định nghĩa là tổng thể các kết quả không mong muốn với các đặc trưng nêu trên. Rothschild (2001) cho rằng từ “vô hình (invisible)” trong thuyết bàn tay vô hình và kết quả không mong đợi hàm ý “sự mù quáng” (blindness). Đồng thời, tác giả cho rằng Smith “nhìn nhận con người như những thẩm phán giỏi nhất về lợi ích của họ [. . .] Nhưng chủ thể của lời giải thích về bàn tay vô hình lại không thể nhìn thấy bàn tay mà họ được dẫn dắt” (Rothschild, 2001, trang 123).

Rothschild (2001) định nghĩa khái niệm “mù quáng” dưới 2 góc độ. Thứ nhất, khi xem xét nội dung quy định mà bỏ qua lợi ích cho bản thân hay người khác, khiến các nhà quản lý không thể nhìn nhận, đánh giá công sức của cá nhân đó. Smith (1789) giải thích rằng: “Trong các loại hình ngành công nghiệp nội địa, khi tư bản vốn có thể sử dụng, và từ đó sản xuất ra các giá trị lớn nhất, thì mỗi cá nhân, tùy vào hoàn cảnh của mình, rõ ràng có khả năng đánh giá lợi ích bản thân tốt hơn so với bất kỳ chính khách hay nhà lập pháp nào”(trang IV.2.10). Thứ hai, “sự mù quáng” áp dụng cho những cá nhân không có ý định gây ra hậu quả xã hội. Mỗi cá nhân bất kỳ không thể biết trước quyết định của những cá nhân khác, cũng như một số yếu tố bên ngoài có thể làm ảnh hưởng đến kết quả hành động của mình. Điều này vô tình đã gây ra hậu quả cho xã hội ngoài chủ định của cá nhân.

Tất cả các cá nhân trong xã hội; bao gồm các thương gia, các nhà lập pháp, thợ may, thợ đóng giày….đều có thể “mù quáng”. Các cá nhân không nhận thức trước được các hậu quả xã hội từ hành động của mình, và sẽ chỉ nhận ra khi lợi ích bản thân bị xâm hại. Vì vậy, trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, “cá nhân là những thẩm phán giỏi nhất đối với vấn đề của họ, tuy nhiên họ lại không thể đánh giá mức độ tác động đối với phần còn lại của xã hội (đây là “sự mù quáng” đối với lợi ích của người khác); do đó họ không nên cố gắng tạo ra những hậu quả xã hội” (Smith, 1789). Xã hội sẽ tốt hơn khi mỗi cá nhân hướng đến tạo ra hậu quả ở cấp độ cá nhân (ít nhất là đối với trường hợp mà ông sử dụng bàn tay vô hình); và xã hội sẽ có kết quả có lợi khi mỗi cá nhân hành động theo cách này.

Thuyết Bàn tay vô hình là một lý thuyết quan trọng trong kinh tế học, đòi hỏi có sự hiểu biết chính xác về khái niệm, đặc điểm, bản chất của những kết quả không mong đợi. Adam Smith (1976) nhấn mạnh rằng: “Các cá nhân có xu hướng ưu tiên hỗ trợ ngành công nghiệp trong nước hơn nước ngoài, xuất phát từ mong muốn của họ bảo đảm an toàn cho bản thân; và định hướng ngành công nghiệp vận hành theo cách có thể sản xuất ra giá trị lớn nhất, cá nhân chỉ hướng đến lợi ích của mình; và khi đó, cũng như trong các trường hợp khác, cá nhân bị dẫn dắt bởi bàn tay vô hình phấn đầu vì một mục đích ngoài mong đợi của họ… Thông qua theo đuổi lợi ích riêng của mình, các cá nhân sẽ mang lại hiệu quả cho xã hội nhiều hơn là khi họ có ý định theo đuổi hiệu quả xã hội đó”(Smith, 1789: IV.2.9). Một cách khái quát, bàn tay vô hình chỉ ra mối quan hệ giữa quá trình theo đuổi lợi ích của mỗi cá nhân (tức là sự mong đợi của họ đều hướng tới cấp độ cá nhân) và các kết quả quả không mong đợi ở cấp độ xã hội. Theo đó, quá trình theo đuổi lợi ích của mỗi cá nhân tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và mang lại lợi ích cho xã hội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *