Số ít các chủ thể tham gia giao dịch

Theo Williamson (1994), khi có ít đối tượng có thể tham giao dịch (Small numbers of actors), các tổ chức, cá nhân tham gia dễ có tính cơ hội vì cho rằng ít có đối tượng có thể thay thế họ. Ngược lại, số đối tượng có thể tham gia giao dịch càng đông sẽ giúp hạn chế chủ nghĩa cơ hội. Tương tự đối với tính không chắc chắn của giao dịch, có càng nhiều đối tượng có thể tham giao dịch thì tính không chắc chắn không còn là vấn đề đáng bận tâm vì trên thị trường có số lượng lớn cá nhân, tổ chức có thể thay thế tham gia giao dịch.

Tình hình sẽ nghiêm trọng khi có đồng thời chủ nghĩa cơ hội và số ít các chủ thể tham gia giao dịch, điều này làm giới hạn đáng kể sự lựa chọn của các bên khi tái thương lượng hợp đồng. Chủ nghĩa cơ hội tồn tại trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, ở hai dạng chính và đi kèm với vấn đền số ít các chủ thể tham gia giao dịch:

Số ít các chủ thể tham gia giao dịch xảy ra trước: sự độc quyền song phương ban đầu

Số ít các chủ thể tham gia giao dịch xảy ra sau: dù ban đầu có nhiều chủ thể, các bên tham gia vào giao dịch sẽ dần tích lũy kinh nghiệm cụ thể liên quan đến giao dịch này, và điều này sẽ dẫn đến vấn đề có ít chủ thể tham gia khi tái thương lượng.

 Kết luận: Tóm lại, kinh tế học chi phí giao dịch cung cấp hệ thống ba phương thức quản trị : quản trị thị trường, theo thứ bậc và các hình thức trung gian/ pha tạp. Hệ thống này cơ bản dựa trên hai yếu tố là tần số các mối quan hệ/giao dịch và đặc tính của tài sản trong hoàn cảnh thông tin không hoàn hảo hay mất cân bằng, có số ít các chủ thể tham gia giao dịch, và nhất là tính không chắc chắn với một bối cảnh giao dịch. Các điều kiện này cùng tồn tại với hai đặc tính của con người là khả năng tư duy giới hạn và chủ nghĩa cơ hội.

 Hình 1: Tổng quan học thuyết chi phí giao dịch

Khái niệm về chi phí giao dịch là một công cụ phân tích tốt để giải thích sự tồn tại của các cấu trúc phối hợp giao dịch khác nhau. Công cụ phân tích này giúp làm rõ tính hiệu quả của các hình thức quản trị hợp nhất hiệu quả nhất. Như vậy, Williamson có thể đưa ra một mô hình tổ chức hiệu quả để quản lý các giao dịch bên trong. Học thuyết chi phí giao dịch có thể đưa ra phương pháp phân tích giúp giải thích sự hiện diện của các mô hình phối hợp khác nhau theo hai tiêu chí chính: đặc tính của tài sản và cường độ giao dịch.

Doanh nghiệp được xem như là một mối ràng buộc về hợp đồng. Phạm vi của doanh nghiệp được xác định bằng chi phí giao dịch và chi phí sản xuất. Lý thuyết này nối tiếp giữa doanh nghiệp và thị trường khi đưa ra các mô hình kết hợp pha tạp (mô hình quản trị song phương). Nhưng khi xem doanh nghiệp như là một mối ràng buộc về hợp đồng, điều này đã phá bỏ toàn bộ đặc tính của doanh nghiệp đối với thị trường, thực vậy, phạm vi của doanh không có ý nghĩa quan trọng trong học thuyết này vì tất cả giao dịch đều là hợp đồng ở cả trong doanh nghiệp và trên thị trường

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *