Thuyết tiến hóa doanh nghiệp

Thuyết tiến hoá doanh nghiệp (Evolutionary Theory of the Firm), khởi đầu từ nghiên cứu của Nelson và Winter (1982), tiếp cận và phân tích doanh nghiệp thông qua khái niệm thông lệ vận hành (organizational routines). Trong bối cảnh các yếu tố khác nhau trong nhận thức về môi trường, và giao tiếp, thu nhận thông tin và tính toán bị giới hạn và đắt đỏ, hợp tác chỉ có thể đạt được trên cơ sở xác định tập hợp các nguyên tắc và luật lệ. Những nguyên tắc và luật lệ này được hiểu và chia sẻ bởi các thành viên của doanh nghiệp tham gia tương tác kinh tế. Thuyết tiến hoá tập trung đặc biệt vào các khía cạnh của sản xuất, và nhấn mạnh bản chất nhận thức của cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp.

1. Doanh nghiệp và thông lệ vận hành

1.1. Nguồn gốc, định nghĩa và tầm quan trọng của thông lệ vận hành

  • Nguồn gốc và định nghĩa

Cohen và các cộng sự (1996) định nghĩa thông lệ vận hành (routines) là “khả năng thực hiện đạt được kết quả lặp lại trong bối cảnh tổ chức đã học hỏi dưới những áp lực lựa chọn trước đó” (trang 683). Thông lệ vận hành có thể được xem là những kho chứa kiến thức do kết nối các kỹ năng cá nhân dưới dạng gần như chính thức. Một thông lệ vận hành là một chuỗi các nguyên tắc điều kiện – hành động của những công việc khác nhau, được thực hiện liên tục hoặc song song với nhau. Các kiểu mẫu tiến hoá của doanh nghiệp được dựa trên ý tưởng doanh nghiệp như một bộ máy xử lý thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho năng lực doanh nghiệp thích ứng và xử lý thông tin. Thông lệ vận hành là tất cả những quy định về tổ chức, quy trình sản xuất và xử lý thông tin được tiêu chuẩn hoá mô tả các hình mẫu hành vi và các kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp. Nelson (1994) cho rằng, “một doanh nghiệp có thể được nhìn nhận như hệ thống cấp bậc thông lệ vận hành trong thực tiễn, các kỹ năng quản trị hành chính cập bậc thấp và các thủ tục quyết định bậc cao cho lựa chọn những gì được làm với cấp độ yêu thích”. Nelson và Winter (1982) mô tả thuật ngữ thông lệ vận hành trên 2 khía cạnh: (i) liên quan đến nhận thức về học hỏi và kiến thức, và (ii) tổ chức các biện pháp khuyến khích, giám sát và kiểm soát. Do đó, thông lệ vận hành có hai đặc điểm như những kỹ năng giải quyết vấn đề và cơ chế quản trị.

Rõ ràng, có nhiều hành vi của doanh nghiệp mà theo nghĩa thông thường không thể được xem là thông lệ vận hành. Nhiều quyết định của doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng nhìn nhận theo quan điểm của doanh nghiệp và trên phương diện của xã hội không có tính thông lệ vận hành. Những người điều hành doanh nghiệp cấp cao trong thế giới hiện đại không dùng thời gian cả ngày nhàm chán áp dụng các giải pháp giống nhau đối với các vấn đề tương tự đã từng giải quyết nhiều năm trước đó. Thông thường, hầu hết những hành vi doanh nghiệp lặp lại và có thể dự đoán được được xếp vào “thông lệ vận hành”. Đặc biệt khái niệm “thông lệ vận hành” được hiểu bao gồm những sắp đặt tương đối thường xuyên và các kinh nghiệm chiến lược đã hình thành nên cách thức tiếp cận đối với các vấn đề phi thông lệ mà doanh nghiệp đang đối mặt. Trong thực tế, tất cả các hành vi doanh nghiệp theo các hình mẫu lặp lại và có thể dự đoán không phù hợp với thuyết tiến hoá doanh nghiệp, do có những yếu tố có tính ngẫu nhiên thống kê trong xác định các quyết định và các kết quả quyết định. Trên phương diện của người tham gia đưa ra quyết định doanh nghiệp, các yếu tố ngẫu nhiên này có thể phản ánh kết quả của những cuộc họp lộn xồn, hoặc của những đối mặt với những vấn đề phức tạp trong điều kiện khủng hoảng. Nhưng trên phương diện của những người quan sát bên ngoài để hiểu về động lực của hệ thống lớn hơn, đặc điểm quan trọng của những hiện tượng này là khó có thể dự đoán. Ngược lại, nếu các hiện tượng này không khó dự đoán, những người quan sát sẽ có xu hướng lý giải những lộn xồn và cảm giác khủng hoảng như một thể loại của nghi lễ tổ chức – một phần của thông lệ vận hành.

Trong bất cứ trường hợp nào, hình mẫu tiến hoá cũng làm nổi bật lên những tương đồng giữa các loại khác nhau của thông lệ vận hành. Tại bất kỳ thời điểm nào, thông lệ vận hành của một doanh nghiệp xác định một danh sách các chức năng có vai trò quyết định những gì mà một doanh nghiệp làm như một chức năng của biến số đa dạng bên ngoài (các điều kiện thị trường) và các biến số tình trạng bên trong (dự trữ máy móc phổ biến, tỉ lệ lợi nhuận trung bình). Trong số các chức năng được xác định như vậy, một chức năng có thể liên quan đến đầu vào được đòi hỏi để sản xuất đầu ra (phản ánh kỹ thuật của doanh nghiệp), một chức năng có thể liên quan đến đầu ra được sản xuất bởi một doanh nghiệp đối với các điều kiện thị trường (đường cong cung cấp của thuyết chính thống), vàmột chức năng liên quan đến tỉ lệ đầu vào biến thiên đối với giá của nó và các biến số khác. Nhưng ngược lại trong thuyết chính thống, các kỹ thuật biến thiên là những điều đã biết không thay đổi và các nguyên tắc quyết định được cho là kết quả của tối đa. Còn ở trong thuyết tiến hoá, các kỹ thuật biến thiên được xem như phản ánh đơn giản bất kỳ thời điểm nào về mặt lịch sử các thông lệ vận hành nhất định quản trị các hành động của một doanh nghiệp.

Mặc dù các thông lệ vận hành quản trị hành vi tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào, với thời gianlà dữ liệu định sẵn, đặc điểm các thông lệ vận hành phổ biến có thể được hiểu bằng cách tham khảo tiến trình tiến hoá đã tạo nên chúng. Đối với mục tiêu phân tích các tiến trình đó, thông lệ vận hành được phân chia thành 3 lớp.

Lớp đầu tiên liên quan đến những gì một doanh nghiệp làm vào bất kỳ thời gian nào, dựa trên dự trữ phổ biến của doanh nghiệp, trang thiết bị, và những yếu tố sản xuất khác không được gia tăng thêm trong ngắn hạn. Những thông lệ vận hành quản trị hành vi ngắn hạn có thể được gọi là “các đặc điểm vận hành”.

Nhóm thứ hai của thông lệ vận hành quyết định gia tăng hoặc giảm thiểu dự trữ vốn doanh nghiệp theo từng giai đoạn (các yếu tố sản xuất này được cố định trong ngắn hạn). Mức độ mà vi hành vi đầu tư thực sự theo sau các kiểu mẫu có thể dự đoán có thể khác nhau trong từng hoàn cảnh. Những kiểu mẫu nào vẫn được sử đụng có lẽ phụ thuộc vào quy mô dự án đầu tư liên quan đến hoạt động đang tồn tại của doanh nghiệp. Phạm vi của những triển vọng thực tế này tương tự như trong thuyết tiến hoá với một loạt các vai trò khác nhau của các yếu tố có tính thống kê ngẫu nhiên trong mô tả quá trình đưa ra quyết định đầu tư. Trong những mô hình cụ thể, các quy định đầu tư được các doanh nghiệp sử dụng sẽ là yếu tố quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp, có thể đối với cả những biến số khác. Như vậy, các doanh nghiệp có lợi nhuận sẽ tăng trưởng và những doanh nghiệp không lợi nhuận sẽ thu hẹp lại, và các đặc điểm vận hành của những doanh nghiệp có lợi nhuận hơn sẽ giải thích cho phần tăng trưởng trong hoạt động của ngành kinh doanh.

Cơ chế lựa chọn trong thông lệ vận hành doanh nghiệp cũng tương tự với lựa chọn gien của tự nhiên với những tỉ lệ tái sản xuất thuần khác nhau trong thuyết tiến hoá sinh học. Như trong thuyết tiến hoá sinh học, trong thuyết tiến hoá kinh tế, tính nhạy cảm của tỉ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp đối với thành công và thất bại bản thân nó là một sự phản ánh chính gien của nó.

Cuối cùng, các doanh nghiệp được xem là những đối tượng sở hữu các thông lệ vận hành để điều chỉnh theo thời gian các khía cạnh của các đặc điểm vận hành của mình. Ở một khía cạnh nào đó, các doanh nghiệp kiểu mẫu của thuyết tiến hoá có thể được xem như sở hữu các bộ phận phân tích thị trường, các phân xưởng nghiên cứu vận hành, và các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển. Hoặc có thể không một trang thiết bị nào trong số này được xây dựng trong một doanh nghiệp, nhưng ít nhất thỉnh thoảng một số người trong doanh nghiệp có thể tham gia vào xem xét những gì doanh nghiệp đang làm và tại sao lại đang làm như vậy, cùng với tư tưởng sửa chữa lại hoặc thậm chí thay đổi toàn diện. Các tiến trình này, cũng như các tiến trình khác cần thiếết được hướng dẫn bởi quy định. Đó là một hệ thống cấp bậc của các nguyên tắc quyết định với các thủ tục cấp cao, thỉnh thoảng hoạt động để điều chỉnh các thủ tục cấp thấp. Thậm chí, có thể có những thủ tục của cấp bậc cao hơn cao như cân nhắc không thường xuyên về mức độ phù hợp của chính sách nghiên cứu và phát triển hiện tại hoặc về tính đúng đắn về phương pháp luận của các nghiên cứu tiếp thị, đang được sử dụng để hướng dẫn chính sách quảng cáo.

[…]

1.2. Định nghĩa và bản chất doanh nghiệp: tập hợp có tổ chức các thông lệ vận hành

Trong thuyết tiến hoá của Nelson và Winter (1982) thì doanh nghiệp được thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận và tham gia vào tìm kiếm cách thức để cải thiện lợi nhuận của mình. Nhưng hành động của doanh nghiệp không không mang dáng vẻ tối đa hoá lợi nhuận đới với các tổ hợp chọn lựa rõ ràng và ngoại sinh nhất định.

Các đặc điểm tổ chức liên quan mật thiết đến chức năng thoả hiệp của thông lệ vận hành. March và Simon (1993) cho rằng, “tổ chức là nơi chuyển đổi xung đột thành hợp tác”. Các thông lệ vận hành cung cấp các thoả hiệp cụ thể về doanh nghiệp. Sẽ có những thông lệ vận hành trong các nhóm, nhưng trong bối cảnh của doanh nghiệp, quan trọng hơn là các nguyên tắc của trò chơi và cách làm thế nào trò chơi này được chơi giữa các nhóm nhỏ khác (các bộ phận hoặc các phòng ban khác) của doanh nghiệp. Những thoả hiệp không chắc chắn dẫn đến những xung đột trong phối hợp và thất bại trong thực hiện.

[…]

1.3. Hành vi của doanh nghiệp trên cơ sở các thông lệ vận hành

2. Bản chất của thông lệ vận hành

2.1. Lặp lại và bền vững

2.2. Bản chất tập thể của thông lệ vận hành

2.3. Bản chất tự vận hành và tự cập nhật của thông lệ vận hành

2.4. Bản chất quy trình của thông lệ vận hành

2.5. Tính phụ thuộc bối cảnh, gắn kết và đặc tính

2.6. Phụ thuộc lối mòn (path dependence)

3. Thông lệ vận hành trong doanh nghiệp

3.1. Điều phối và kiểm soát

3.2. Thỏa ước đình chiến (truce)

3.3. Tiết kiệm nguồn lực trí tuệ

3.4. Giảm bất ốn

3.5. Sức ỳ, ổn định và hạn chế và trợ giúp

3.6. Sự thúc đẩy – Triggers – Khởi điểm

3.7. Tri thức hiện hữu hóa

Nguồn: Phan Thanh Tú, Vũ Mạnh Chiến, Phạm Văn Kiệm, Lưu Đức Tuyến, Nguyễn Thị Hồng Nga (2018), “Chương 8: Thuyết tiến hóa doanh nghiệp”, trong sách Học Thuyết Doanh Nghiệp, NXB Lao Động – Xã Hội, trang 147-163.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *