Điều kiện sống và tồn vong của doanh nghiệp

Qua tác động của các điều kiện thành lập, các doanh nghiệp thường không coi tỷ lệ tử vong là một chủ đề riêng biệt, nó chỉ được đề cập cùng với vấn đề hình thành. Nhưng tầm quan trọng đặc biệt của nó về mặt lý thuyết đủ để quan tâm xử lý một cách riêng biệt. Mối quan tâm chính về lý thuyết bắt nguồn từ một bài báo của Stinchcombe (1965). Trong bài báo nghiên cứu về mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và cấu trúc xã hội, Stinchcombe (1965) đã đề xuất một mối quan hệ giữa thời gian lịch sử mà doanh nghiệp được tạo ra và cơ cấu xã hội hiện tại. Một số đặc điểm của môi trường xã hội tại thời điểm thành lập ảnh hưởng tới các quá trình tổ chức mà sau đó nó được thể chế hoá và chống thay đổi. Do đó, một số tính năng xuất hiện khi thành lập được thực hiện bởi các doanh nghiệp trong suốt vòng đời của chúng. Một cuộc khảo sát có hệ thống về sự tác động của các điều kiện này khi thành lập cho thấy mối quan tâm rộng rãi hơn về mặt lý thuyết.

Năm 1989, Tucker đã đưa ra một lý do quan trọng khi nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện thành lập đối với tỷ lệ tử vong. Các quy trình lựa chọn thông thường dựa trên các thông số tồn tại trong doanh nghiệp. Ví dụ như vấn đề tính mới, hoặc về sự phù hợp với môi trường doanh nghiệp, sự khác biệt trong doanh nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp khác nhau về tuổi và sự phù hợp với môi trường. Một ý nghĩa quan trọng khác là hoạt động của các doanh nghiệp mới bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt về điều kiện thành lập, và các doanh nghiệp được phân biệt với nhau bởi sự khác nhau này. Nói cách khác, sự khác biệt về điều kiện thành lập và tác động của chúng đối với tỷ lệ tử vong là một cách khác trong quá trình lựa chọn hoạt động của doanh nghiệp.

Carroll và Hannan (1990) cho rằng mật độ thành lập có thể làm tăng tỷ lệ tử vong vì hai lý do. Thứ nhất là vấn đề cạnh tranh gay gắt khi thành lập. Tức là các doanh nghiệp mới phải đối mặt với áp lực cạnh tranh mạnh hơn. Các doanh nghiệp không thể dành nguồn lực cần thiết để chuẩn hoá cấu trúc và quy trình, làm cho khả năng cạnh tranh ban đầu của chúng kém hơn. Thứ hai là nguồn tài nguyên hạn hẹp. Khi mật độ cao, người mới thấy mình bị đẩy ra rìa của không gian tài nguyên, vì vậy họ không thể cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp đã được thành lập. Khi họ thích ứng với nguồn tài nguyên ít hơn ở phía rìa không gian tài nguyên, do thói quan nên họ tiếp tục hoạt động ở khu vực tài nguyên đó dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn.

Kết luận: Hệ sinh thái doanh nghiệp thể hiện một quan điểm hệ thống mở có sự gắn kết đặc biệt giữa môi trường sống và sự thành lập (sinh – birth) cũng như giải thể (tử – death) của doanh nghiệp. Trong trạng thái cân bằng, mỗi môi trường chỉ tồn tại một số loại hình doanh nghiệp, có khả năng đáp ứng và thích nghi với mọi hoàn cảnh sống. Do đó, các doanh nghiệp sinh sống tại một môi trường cụ thể với những ràng buộc tương tự nhau phải có cùng cấu trúc tổ chức để có thể tồn tại và phát triển. Trong khi, các thuyết về sự phụ thuộc tài nguyên (Resource dependency theory), thuyết ngẫu nhiên (contingency theory) và thuyết thể chế (neoinstitutional theory) thể hiện cách thức hoạt động của các doanh nghiệp để thích ứng với từng loại môi trường khác nhau; thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp nghiên cứu các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh họ từ góc độ chọn lọc tự nhiên. Theo đó, quan điểm ‘sinh thái học dân số’ sẽ cho thấy “tính tất định về mặt môi trường- environmentally deterministic” rõ ràng hơn so với những học thuyết khác.

Ngoài những mặt tích cực, hệ sinh thái doanh nghiệp vẫn có những hạn chế nhất định. Trước tiên và quan trọng nhất là hạn chế xem nhẹ yếu tố con người. Thực tế, khả năng thích ứng và ra quyết định của các nhà quản lý là khác nhau chứ không phải giống nhau như trong giả định của nghiên cứu. Bên cạnh đó, sinh thái học doanh nghiệp cũng bỏ qua vai trò của toàn cầu hoá và công nghệ trong việc kết nối các quần thể khác nhau. Một hạn chế khác liên quan đến quan niệm mật độ dân số: giả định tất cả các thành viên là tương đương. Ví dụ, xét về “đo lường sự cạnh tranh – measuring competition”, luôn tồn tại những doanh nghiệp lớn, nhỏ khác nhau nên khả năng cạnh tranh tương tự nhau của các doanh nghiệp là khó có thể xảy ra. Xét về ‘mật độ phụ thuộc- density dependence’, nếu coi mật độ sử dụng là số tuyệt đối có thể gây hiểu nhầm vì các quần thể có quy mô khác nhau, ví dụ như mật độ của 100 doanh nghiệp trong một quần thể nhỏ có thể coi là một số lượng lớn, nhưng lại là một số lượng nhỏ khi ở quy mô lớn hơn. Ngày nay, thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp vẫn tiếp tục phát triển và được áp dụng tại nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *