Doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài

   1. Doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài

Thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng, các doanh nghiệp vận hành trong môi trường của mình và phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài để tồn tại và phát triển. Môi trường của một doanh nghiệp bao gồm cấu trúc tổ chức và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bên ngoài. Như vậy, thuyết phụ thuộc nguồn lực xem doanh nghiệp là một hệ thống mở, và nhấn mạnh vai trò của các mối quan hệ bên ngoài thông qua trao đối nguồn lực. Theo đó, các nguồn lực mà doanh nghiệp có được từ môi trường hoặc được chuyển giao đến môi trường rất cần thiết cho quá trình vận hành của các hoạt động chức năng nội bộ. Một doanh nghiệp sẽ ngày càng phụ thuộc hơn vào những doanh nghiệp khác (nhà cung cấp nguồn lực) nếu bị kiểm soát các nguồn lực quan trọng. Nói cách khác, nếu các nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp bị kiểm soát (thường được cung cấp) bởi các doanh nghiệp khác, thì mức độ phục thuộc của doanh nghiệp và các doanh nghiệp khác sẽ ngày càng cao.

Thông qua các đối tác của mình, một doanh nghiệp có thể đạt được các nguồn lực hữu hình như các nguyên vật liệu, nhân công, vốn, cở sở và trang thiết bị … thông qua giao dịch với các đối tác giao dịch, có thể là các nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các liên đoàn, các cơ quan luật pháp và các nhóm lợi ích. Bên cạnh nguồn lực hữu hình, một số nguồn lực vô hình như lòng tin, sự cảm thông, trách nhiệm cá nhân, danh tiếng, vị thế riêng biệt trong các mối quan hệ,… cũng có vai trò quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có thể thay đổi môi trường thông qua các hành động tương tác của mình với môi trường. Doanh nghiệp có khả năng làm thay đổi môi trường, từ đó tác động đến mức độ phụ thuộc nguồn lực, hay mức độ phụ thuộc vào các doanh nghiệp khác. Theo Pfeffer và Salancik (1978), doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược để làm giảm sức ép và phụ thuộc từ bên ngoài. Chiến lược này tập trung vào khả năng thích ứng với môi trường và những thay đổi của doanh nghiệp đối với môi trường, ví dụ, có thể thiết lập liên minh với các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc vận động hành lang với các cơ quan chính phủ để thay đổi luật pháp.

   2. Quan hệ phụ thuộc tương hỗ giữa các doanh nghiệp

Sự phụ thuộc của doanh nghiệp này vào doanh nghiệp khác bắt nguồn từ thực trạng tập trung kiểm soát nguồn lực, Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là cách thức tiếp cận với các nguồn lực thay thế của các doanh nghiệp. Trên thực tế, một doanh nghiệp có thể gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận các nguồn lực thay thế, ngay cả khi đã có phương án thay thế. Vì vậy, thay vì hướng đến kiểm soát nhiều nguồn lực quan trọng, mỗi doanh nghiệp chỉ nên theo đuổi kiểm soát một số loại nhất định mà mình có lợi thế. Nói cách khác, mỗi doanh nghiệp cần tập trung kiểm soát một số nguồn lực nhất định nhằm tạo ra và nâng cao mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp khác đối với mình (Adelman, 1951).

      2.1. Bản chất quản hệ phụ thuộc tương hỗ giữa các doanh nghiệp

Nếu một doanh nghiệp phụ thuộc vào một hoặc một số doanh nghiệp khác, thì hoạt động của doanh nghiệp đó sẽ mang tính tác động tương hỗ. Trong các hệ thống xã hội, phụ thuộc tương hỗ (interdependence) tồn tại khi một doanh nghiệp không thể kiểm soát hoàn toàn các điều kiện cần thiết để đạt được kết quả mong muốn. Phụ thuộc tương hỗ xác định đặc điểm của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các yếu tố tạo nên kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong đó, cân nhấn mạnh rằng phụ thuộc tương hỗ chỉ là nguyên nhân chứ không phải kết quả của mối quan hệ của doanh nghiệp (Pfeffer và Salancik, 1978).

Phụ thuộc tương hỗ được phân loại theo hình thức tương hỗ, thành (i) phụ thuộc tương hỗ kết quả (outcome interdependence) và (ii) phụ thuộc tương hỗ hành vi (behavior interdependence). Hai hình thức này là những hình thức độc lập, có thể xảy ra riêng lẻ hoặc cùng nhau. Trong điều kiện phụ thuộc tương hỗ kết quả, các kết quả đạt được của doanh nghiệp A sẽ phụ thuộc tương hỗ hoặc được quyết định chung cùng kết quả đạt được bởi doanh nghiệp B. Trong trường hợp phụ thuộc tương hỗ hành vi, các hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc vào các hành động của tác nhân xã hội khác (Pfeffer và Salancik, 2003).

Phụ thuộc tương hỗ kết quả được phân loại chi tiết hơn theo vị trí của mối quan hệ, bao gồm phụ thuộc tương hỗ trong quan hệ cạnh tranh và trong quan hệ cộng sinh (Hawley, 1950). Trong quan hệ cạnh tranh (competitive relationaship), kết quả đạt được của một doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với kết quả của doanh nghiệp khác. Quan hệ cạnh tranh tồn tại khi các doanh nghiệp cùng có nhu cầu các nguồn lực giống nhau để tồn tại và phát triển. Trong điều kiện phụ thuộc tương hỗ cộng sinh (symbiotic relationaship), kết quả hoạt động của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp kia. Mối quan hệ này thường mang lại kết quả tỷ lệ thuận cho cả hai bên, cùng tốt hoặc cùng xấu. Các quan hệ cộng sinh tồn tại trên cơ sở sử dụng các sản phẩm hỗ trợ từ các nguồn lực khác nhau giữa các doanh nghiệp (Pfeffer và Salancik, 2003).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *