Các loại hình doanh nghiệp khác theo thuyết quyền sở hữu

   Các loại hình tổ chức theo thuyết quyền sở hữu

Trong mối quan hệ giữa cá nhân với cấu trúc sản xuất, có 02 trường hợp xảy ra: (1) một cá nhân vừa là chủ sở hữu vừa là nhân viên, hoặc chỉ là chủ sở hữu; (2) trong trường hợp sở hữu mang tính tập thể: quyền sở hữu hoặc thuộc về một tập thể cá nhân, hoặc thuộc về Nhà nước. Dựa trên những đặc tính của quyền sở hữu, có thể phân chia tổ chức thành các dạng khác nhau, như sau:

Bảng 1: Các loại hình sở hữu

Ngày nay, cùng với sự biến động và mở rộng về các loại hình sở hữu cá nhân, tổ chức, nhà nước, 05 loại hình doanh nghiệp phổ biến được phân biệt, gồm: (i) doanh nghiệp tư bản (ii) doanh nghiệp quản trị hay hiện đại (Managerial or Modern Corporation); (iii) doanh nghiệp chịu sự điều tiết (Regulated Firms); (iv) doanh nghiệp phi lợi nhuận (Not-for-Profit Firms) và (v) doanh nghiệp theo mô hình xã hội chủ nghĩa (Socialist Firm).

   1. Doanh nghiệp tư bản gắn với chủ sở hữu

Các doanh nghiệp cổ điển và nhỏ thường gắn với một hoặc một số chủ sở hữu, thường gọi là chủ doanh nghiệp, cũng đồng thời là người quản lý trực tiếp và vận hành doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp, trong doanh nghiệp của mình, có các quyền được thể hiện rõ qua học thuyết về quyền sở hữu khi họ đầu tư các phương tiện thuộc quyền sở hữu của mình vào doanh nghiệp, từ đó dẫn tới những chi phí ẩn, nhưng cũng chứng thực nguồn thu nhập của họ. Mặt khác, những người chủ này cũng chiếm hữu lợi nhuận thu về từ doanh nghiệp.

     1.1. Quyền sơ hữu của chủ doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp ký kết các hợp đồng nhằm đảm bảo vận hành hoạt động của doanh nghiệp. Với tư cách nhà sản xuất, họ ký với các chủ sở hữu các phương tiện, nguồn lực sản xuất; với tư cách người bán, họ quan hệ hợp đồng với khách hàng, người đại diện, bán buôn hay bán lẻ. Những hợp đồng ký kết này không chỉ liên quan đến việc trao đổi tiền – hàng (hàng hóa, dịch vụ), mà còn gồm cả quyền sử dụng chúng, theo một cách nào đó, trong một khoảng thời gian nào đó. Mặt khác, chủ doanh nghiệp cũng đứng ra tuyển mộ nhân viên bằng các hợp đồng lao động mua quyền bổ dụng những người này thực hiện nhiệm vụ nào đó, trong một khoảng thời gian xác định (Kœnig, 1998, p8). Các quyền này, thể hiện qua sự kiểm soát của chủ doanh nghiệp, hình thành quyền sở hữu của họ (Furnbotn và Pejovich, 1972). Ngược với những khái niệm cổ điển luật La Mã, luật quyền sở hữu không áp dụng trong khuôn khổ quan hệ giữa người – hàng, mà chủ yếu áp dụng trong các mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tồn tại hàng hóa, dịch vụ và sử dụng chúng.

Cụ thể, chủ doanh nghiệp có các quyền sở hữu sau (Kœnig, 1998, p9):

  • Quyền thu các nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất. Thu nhập này chính bằng chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi dùng thuê mua các hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho sản xuất, và được xách định trong các hợp đồng đã ký kết;
  • Quyền tăng hay giảm lực lượng sản xuất thông qua việc chấm dứt hay ký kết thêm hợp đồng. Tuy nhiên, quyền này bị giới hạn bởi pháp luật hoặc bởi những cam kết cá nhân;
  • Quyền chuyển nhượng hai quyền trên cho người chủ khác;
  • Quyền vượt trội về kiểm soát cho phép chủ doanh nghiệp ra các quyết định liên quan đến việc sử dụng và xếp đặt các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong mọi trường hợp ngoài dự kiến hợp đồng, theo các tập quán hay pháp luật.

Tóm lại, tập hợp các quyền trên xác định các quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp.

     1.2. Chi phí ẩn và những đóng góp của chủ doanh nghiệp

Đầu tư vào các phương tiện, nguồn lực trong doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải chịu một chi phí cơ hội tương đương với những gì có thể thu được từ việc sử dụng chúng cho các hoạt động khác, vốn có thể hiệu quả hơn. Các chi phí này được gọi là các chi phí ẩn ngoài hợp đồng của doanh nghiệp, cụ thể gồm các loại sau (Kœnig, 1998, p9-10):

  • Lợi tức ngầm từ vốn tài chính đầu tư vào doanh nghiệp dưới hình thức trực tiếp tạo ra hay duy trì lợi nhuận từ vốn. Thực tế, đầu tư khoản tiền vốn này vào doanh nghiệp, chủ sở hữu đã bỏ lợi nhuận có thể thu từ đầu tư hay gửi ở những nơi có lợi nhất (đầu tư lĩnh vực khác, gửi ngân hàng);
  • Tiền thù lao của chủ doanh nghiệp (cho các công việc mà anh ta làm) tương đương với tiền lương cao nhất mà anh ta có thể thu được nếu bán dịch vụ này hay làm thuê cho người khác;
  • Tô tức ngầm từ sự quý hiếm của các tài sản, như đất đai, sử dụng bởi doanh nghiệp. Các nguồn thu này có thể ước tính so sánh với thu nhập có thể nếu cho thuê chúng.

Các chi phí ẩn trên giải thích và chứng minh quyền chiếm hữu lợi nhuận doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp.

     1.3. Chiếm hữu lợi nhuận

Lợi nhuận doanh nghiệp là chênh lệch giữa tổng thu và các chi phí ẩn và minh bạch. Doanh nghiệp phải trả những chi phí minh bạch cho việc thuê mua các phương tiện, nguồn lực cần thiết (nhân viên, nguyên vật liệu …), cũng như các chi phí xã hội và pháp luật liên quan như bảo hiểm xã hội, thuế (Kœnig, 1998, p10).

Hành vi chiếm hữu lợi nhuận thuần của chủ doanh nghiệp được biện luận từ nhiều lý do, đặc biệt từ các hoạt động sáng tạo hay mạo hiểm chấp nhận rủi ro trong một môi trường đầu tư bất ổn của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, lợi nhuận thu hút các nhà đầu tư khác thâm nhập vào lĩnh vực này, dẫn đến làm giảm lợi nhuận của mọi doanh nghiệp. Trong dài hạn, lợi nhuận này tiến gần về bằng 0, đồng nghĩa rằng không còn doanh nghiệp mới nào đầu tư vào lĩnh vực này nữa, chủ doanh nghiệp chi còn các nguồn thu từ chi phí ẩn như đã trình bày trong phần trên.

Mặt khác, trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, một vài quyền sở hữu đặc biệt mang lại vị thế cạnh tranh vượt trội cho doanh nghiệp so với các đối thủ khác, như độc quyền về đất đai, bằng sáng chế … Nhờ vậy, chủ doanh nghiệp cũng có thể thu được lợi nhuận lâu dài (Kœnig, 1998, p10).

   2. Doanh nghiệp hiện đại

Trong các doanh nghiệp hiện đại, chủ sở hữu là các cổ đông nắm cổ phần của doanh nghiệp và hoạt động điều hành doanh nghiệp được giao cho một Hội đồng quản trị thực hiện. Trong hoạt động quản lý doanh nghiệp, các nhà quản lý có quyền lực lớn hơn và ít phụ thuộc vào các chủ sở hữu (cổ đông) (Berle và Means, 1932; Berle, 1959). Do đó, hội đồng quản trị có thể sử dụng tài sản của doanh nghiệp để theo đuổi mục đích riêng, thậm chí đối ngược với mục đích của các chủ sở hữu.

Trong các doanh nghiệp hiện đại, quyền bổ nhiệm, bãi nhiệm, quản lý, sử dụng nhà quản lý (kiểm soát viên) của các chủ sở hữu chế hơn so với các doanh nghiệp tư bản truyền thống. Chính sự suy giảm các quyền hạn này làm giảm khả năng can thiệp hay giám sát của chủ sở hữu đối với các quyết định của các nhà quản lý. Và như vậy, quyết định của các nhà quản lý có ảnh hưởng trực tiếp hơn đến giá trị và hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác, trong doanh nghiệp hiện đại, nhà quản lý có vai trò lớn hơn trong các mô hình doanh nghiệp truyền thống (Alchian và Demsetz, 1972). Đồng thời, sự suy giảm vai trò của quyền sở hữu cũng ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Quyền sở hữu suy giảm do sở hữu cổ phiếu bị phân tán, dẫn tới các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đặt ra trước đó của doanh nghiệp có thể dễ dàng bị thay đổi, coi nhẹ; trong khi các chi phí phát sinh để giám sát, điều chỉnh các nhà quản lý có thể gia tăng.

Mô hình doanh nghiệp hiện đại là cơ sở phát triển của nhiều mô hình doanh nghiệp khác như công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh…. Các mô hình doanh nghiệp này được thành lập trong những điều kiện khác nhau và áp dụng cho một số trường hợp hạn chế; nhưng đều mang bản chất của doanh nghiệp hiện đại và có cấu trúc thể chế với các động cơ kinh tế được giải thích một cách tổng quát theo thuyết quyền sở hữu, như đã trình bày trên đây.

   3. Các doanh nghiệp chịu sự điều tiết

Đối với loại hình doanh nghiệp này, các cơ quan điều tiết (của Nhà nước) tiến hành áp đặt tiêu chuẩn tỷ lệ, định mức lợi nhuận, ví dụ như các doanh nghiệp dịch vụ công của nhà nước, các doanh nghiệp điện thoại… Mục tiêu cơ bản của cơ quan điều tiết là đảm bảo mức tỷ lệ lợi nhuận thực tế của một doanh nghiệp đạt đến mức tối thiểu cho phép. Để làm điều đó, cơ quan điều tiết có thể phải gây áp lực điều chỉnh giá lên hoặc xuống khi cần thiết.

Khi tham gia vào nền kinh tế có sự điều tiết hay kiểm soát, lợi nhuận thực tế thu được của một doanh nghiệp có thể vượt quá tỷ lệ lợi nhuận đặt ra trước đó. Tuy nhiên, cơ quan điều tiết sẽ chuyển lợi nhuận lớn thu được đó cho khách hàng thông qua việc áp đặt mức giá thấp. Sự giảm nhẹ quyền sở hữu trong các doanh nghiệp chịu sự điều tiết này mang một hình thức cụ thể, được gọi là hạn chế hợp pháp quyền của chủ sở hữu đối với số dư (Alchian và Demsetz, 1972).

Theo thuyết quyền sở hữu, mức độ giảm quyền sở hữu của loại hình doanh nghiệp này tác động trực tiếp tới chiến lược của chủ doanh nghiệp thông qua các áp lực cạnh tranh. Cụ thể, các nhà quản trị vừa phải tuân theo các quy định điều tiết của cơ quan điều tiết, vừa đảm bảo một mức lợi nhuận ở giới hạn trên. Tuy nhiên, các nhà quản trị doanh nghiệp vẫn có thể vừa theo đuổi tư lợi vừa đảm bảo lợi nhuận của chủ sở hữu. Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động tốt, lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp sẽ lớn hơn mức lợi nhuận mà các chủ sở hữu áp đặt.

Trên thực tế, các nhà quản trị có thể tìm cách biến lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp, cao hơn mức tỷ lệ lợi nhuận áp đặt, thành tiêu thụ tài sản vô hình (Alchian, 1965; Pejovich, 1971). Theo đó, các nhà quản lý thu lấy phần lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận quy định và che giấu lợi nhuận thực tế trước các cơ quan quản lý, bằng cách báo cáo chi phí kinh doanh cao hơn. Chính việc điều chỉnh tăng chi phí này khiến cho giá đầu ra các sản phẩm cao hơn.

Nghiên cứu của Alchian và Kessel (1962) cho thấy rằng giá trị tài sản vô hình đối với các nhà quản trị của các doanh nghiệp chịu điều tiết này thấp hơn so với các doanh nghiệp hiện đại. Ngoài ra, loại hình doanh nghiệp này tiêu thụ nguồn lực nhiều hơn so với các nhà quản trị doanh nghiệp hiện đại.

   4. Doanh nghiệp phi lợi nhuận

Loại hình doanh nghiệp phi lợi nhuận khá đa dạng, như mô hình các trường đại học, các quỹ tiết kiệm tương hỗ, các hiệp hội, tổ chức thể thao, bệnh viện … Trong đó, không cá nhân hay nhóm người nào có quyền sở hữu số dư lợi nhuận thu được (Alchian và Demsetz, 1972), lợi nhuận, nếu có, sẽ được sử dụng toàn bộ để thu lợi nhuận cao hơn. Nhà quản lý cũng có thể tận dụng nguồn lực này để tạo dựng một số lợi thế kinh doanh, ví dụ khách hàng sẽ được vay vốn nếu chấp thuận mua bảo hiểm; hay tạo ra tình trạng khan hiếm giảkhi định giá mặt hàng thấp hơn giá trung bình cho phép nhà quản trị có được ưu đãi thương mại (Alchian và Allen, 1972). Mức chênh lệch này có thể được sử dụng để tăng thêm các giá trị tiện ích, đồng nghĩa nhà quản lý trong các doanh nghiệp phi lợi nhuận cũng điều hành với mục đích tăng thu nhập vô hình từ chi phí của khách hàng và của chủ doanh nghiệp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *