Doanh nghiệp tư bản gắn với chủ sở hữu

  Doanh nghiệp theo mô hình xã hội chủ nghĩa

Thuyết quyền sở hữu lý giải các hành vi của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu là các doanh nghiệp thời Liên Xô cũ (Furubotn, 1971). Trong đó, nội dung các quyền sở hữu quy định trong doanh nghiệp Liên Xô cũ có nét tương đồng với doanh nghiệp quản lý hay hiện đại. Mối quan hệ giữa nhà quản lý trong các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình của Liên Xô cũ và Nhà nước tương tự mối quan hệ giữa nhà quản lý trong các doanh nghiệp tư bản với các cổ đông.

Chi phí Nhà nước sử dụng để xây dựng chính sách và vận hành loại hình doanh nghiệp này là rất lớn. Do đó, các nhàn quản lý có thể giảm bớt quyền sở hữu của Nhà nước dựa trên đánh giá chi phí của mình, hoặc sử dụng một số nguồn lực của doanh nghiệp để tăng lợi ích cá nhân (tiện ích) thay vì thực hiện tất cả các mục tiêu theo định hướng của chính phủ (Furubotn và Pejovich, 1972). Về mặt pháp lý, các nhà quản lý có thể vi phạm quy định của Nhà nước để bảo vệ quyền lợi của mình. Cụ thể, họ có thể báo cáo đầu vào sản xuất lớn hơn (bao gồm cả lao động), thực hiện duy trì một lượng đầu vào, đầu ra ngoài báo cáo, báo cáo sai hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp (thấp hơn hiệu quả thực tế)… nhằm thu lợi (vật chất, tiện ích) cho cá nhân (Furubotn và Pejovich, 1972). Nói cách khác, nhà quản lý trong các doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa có thể lợi dụng những hạn chế và ràng buộc về mặt thể chế và kỹ thuật để tìm cách tối đa hóa chức năng tiện ích cho mình.

Nghiên cứu về bản chất của mối quan hệ giữa chính phủ Liên Xô và các nhà quản lý trong doanh nghiệp chỉ ra rằng, khi theo đuổi lợi ích cá nhân, các nhà quản lý trong nền kinh tế XHCN có động lực đổi mới rất mạnh mẽ. Vì nhờ đó, họ có thể lựa chọn phương pháp trục lợi phù hợp từ những cải tiến kỹ thuật của Nhà nước, mà không phải bỏ chi phí đầu tư ban đầu (Berle và Mean, 1968). Điều này trái với quan điểm của hầu hết các nhà kinh tế phương tây khi cho rằng các doanh nghiệp XHCN không khuyến khích nhà quản lý đổi mới và công bố đổi mới của mình. Căn cứ vào thuyết về quyền sở hữu, Furubotn (1971) đã giải thích trường hợp các doanh nghiệp quản lý lao động của Nam Tư cũ. Kể từ khi Nam Tư cũ tiến hành đổi mới vào năm 1965, cơ cấu tổ chức đã được cải tổ theo hướng gia tăng lợi nhuận thu về cho các nhân viên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nội dung về quyền sở hữu của các nhân viên trong các doanh nghiệp khác với các cổ đông trong các doanh nghiệp tư bản phương Tây. Một điểm đáng lưu ý là công nhân Nam Tư cũ không thể chuyển giao hay trao đổi quyền của mình khi họ rời khỏi doanh nghiệp. Theo luật của Nam Tư cũ, một cá nhân không có quyền sở hữu vốn cổ phần của doanh nghiệp mà chỉ có quyền sử dụng vốn đo. Vì vậy, một cá nhân có quyền hưởng phần chia số dư lợi nhuận bằng cách đóng góp cổ phần tại doanh nghiệp; các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ phải duy trì giá trị của vốn cổ phần này vô thời hạn.

Kết luận: Thuyết quyền sở hữu xuất hiện góp phần làm rõ và khẳng định các quyền gắn với sở hữu trong đời sống con người cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời xác định nguồn gốc của quyền sở hữu và phân loại các loại hình doanh nghiệp theo sở hữu. Ngoài ra, thuyết quyền sở hữu có đóng góp đặc biệt quan trọng trong giải thích sự phân bổ các nguồn lực và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Học thuyết chỉ ra rằng:

  • Trong một môi trường không có chi phí giao dịch, tất cả các chi phí và lợi nhuận đã bao gồm trong quá trình trao đổi, thị trường sẽ phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất;
  • Khi chi phí giao dịch bằng không, sự phân công quyền sở hữu ban đầu không còn quan trọng nữa, vì quyền này có thể được điều chỉnh một cách tự nguyện và có thể trao đổi để thúc đẩy sản xuất;
  • Trường hợp chi phí giao dịch cao, việc giao quyền sở hữu trở nên quan trọng hơn, do việc chuyển giao các quyền được thực hiện linh hoạt, khi đó, cơ cấu quyền sở hữu có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến hoạt động sản xuất và phân phối của toàn bộ nền kinh tế;
  • Chi phí giao dịch cao có thể là một trở ngại lớn đối với việc hình thành và thay đổi hệ thống quyền sở hữu.

Tuy nhiên, một số vấn đề, nếu chỉ dựa vào thuyết quyền sở hữu, sẽ không thể giải thích thỏa đáng, như vấn đề về tiền lương, về thị trường lao động hay vấn đề nhiều liên quan đến các doanh nghiệp quản lý, … Đầy cũng chính là tiền đề, trong bối cảnh những năm 1950 – 1960, đối với các nhà nghiên cứu để phát triển các học thuyết nổi tiếng khác, đều dựa trên thuyết quyền sở hữu, như học thuyết đại diện (Agency Theory), học thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics), sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo sau này của cuốn sách.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *