Thuyết quyền sở hữu

Thuyết quyền sở hữu (Property Rights Theory) được phát triển từ những năm 60 của thế kỷ 20 với các nghiên cứu của một số tác giả tiên phong như Ronald Coase (1960), Armen Alchian (1965, 1967, 1969), Harold Demsetz (1967). Mặc dù có quan điểm khác nhau (nhìn nhận dưới góc độ kinh tế học hay luật học), các nghiên cứu đa ngành của các tác giả trên đều có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển thuyết quyền sở hữu.

1. Định nghĩa và bản chất quyền sở hữu

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền sở hữu. Tiếp cận theo quan điểm pháp lý, Alchian (1965) xác định quyền sở hữu dưới 2 góc độ: (i) quyền sở hữu theo nghĩa hẹp, liên quan đến các đối tượng vật lý hay hữu hình; và (ii) theo nghĩa rộng, liên quan đến cả đối tượng hữu hình và vô hình (bao gồm bằng sáng chế, bản quyền tác giả và các quyền trong hợp đồng). Cụ thể, quyền sở hữu bao gồm quyền sử dụng tài sản (usus), quyền thu lợi nhuận từ tài sản (usus fructus), quyền thay đổi hình thức và vật chất cấu thành tài sản (abusus) và quyền chuyển nhượng tất cả hoặc một số các quyền quy định trên cho người khác theo mức giá thoả thuận. Furubotn và Richter (2000) mở rộng quyền sở hữu, bổ sung thêm các quyền “không được luật pháp quy định mà được quy ước bởi các nghi thức, tập quán xã hội… hay các quyền phi luật pháp khác mang tính chất tự quy ước” (trang 76). Quyền sở hữu, theo quan điểm pháp lý, được phân thành 2 loại: (i) sở hữu tuyệt đối (absolute rights) và (ii) quyền sở hữu tương đối (relative rights). Quyền sở hữu tuyệt đối (sở hữu hữu hình và vô hình) được thực hiện đối với tất cả các đối tượng sở hữu; trong khi quyền sở hữu tương đối cho phép chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu chỉ với một hoặc một số đối tượng xác định.

Tuy nhiên, một số học giả khác lại cho rằng “quyền sở hữu” cần được định nghĩa rộng hơn, không chỉ dựa trên thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu. Heyne (2000) chỉ ra rằng “các doanh nghiệp trong thực tế có quyền xả chất thải vào không khí, điều này được thể hiện qua thực tế là họ làm điều đó một cách công khai và không bị phạt” (trang 334). Thực tế, đây là những hoạt động tự nhiên của doanh nghiệp; do đó, cần phải phân biệt quyền sở hữu với các lợi ích hợp pháp khác. Theo cách tiếp cận pháp lý, các quyền sở hữu được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Quan điểm mở rộng cho rằng các quyền sở hữu là các quyền được quy định bởi cả pháp luật, khách hàng và các quy luật hoạt động của thị trường. Quyền sở hữu là “các quy định và thỏa thuận chính thức và không chính thức cho phép tiếp cận các nguồn lực và những quyền lợi mà cá nhân có được đối với nguồn lực và lợi ích sinh ra từ các nguồn lực đó” (Wiebe và Meinzen- Dick, 1998, trang 205).

Dưới góc độ kinh tế, có sự phân biệt giữa quyền kinh tế và quyền pháp lý. Quyền pháp lý là quyền quy định của nhà nước và được pháp luật công nhận; quyền kinh tế là khả năng cá nhân thực hiện các quyền của họ đối với tài sản. Khái niệm quyền kinh tế có vai trò quan trọng trong phân tích kinh tế, đảm bảo các quyền liên quan thông qua mua quyền sở hữu, ví dụ như đối với nhiều tài sản tư nhân, không hoặc chưa được pháp luật bảo vệ.

Một cách khái quát, quyền sở hữu là một quyền được xã hội công nhận về việc lựa chọn sử dụng một tài sản; quyền này được trao cho một cá nhân cụ thể và có thể sang nhượng được thông qua trao đổi những quyền tương tự đối với tài sản. Quyền sở hữu có thể được xác định qua ba thuộc tính: quyền sử dụng tài sản (usus); quyền thu lợi từ tài sản (fructus); và quyền chuyển nhượng cho bên thứ ba (abusus) (Demsetz, 1967).

2. Quyền sở hữu, doanh nghiệp và thị trường

2.1. Cấu trúc quyền sở hữu

Theo Coase (1960), xác định rõ ràng quyền sở hữu cho phép các doanh nghiệp giảm thiểu tối đa chi phí giao dịch (transaction costs), đồng thời góp phần tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, để có thể xác định rõ bản chất của quyền sở hữu, các doanh nghiệp cần hiểu rõ các thuộc tính cơ bản của quyền sở hữu, gồm:

Thứ nhất, quyền sở hữu mang tính độc quyền, nhưng chỉ tương đối và thay đổi theo biến động của các quy định, chính sách của doanh nghiệp và chính phủ (Barzel, 1989).

Thứ hai, tầm quan trọng của quyền sở hữu phụ thuộc vào khả năng độc lập sử dụng nguồn lực liên quan của chủ sở hữu. Quyền sở hữu mang tính tuyệt đối khi chủ sở hữu có thể toàn quyền quyết định sử dụng tài sản, nguồn lực liên quan, ví dụ quyển sử dụng đất đai trong xã hội tư bản. Ngược lại, quyền sở hữu chỉ mang tính tương đối khi chủ sở hữu không thể chủ động quyệt định sử dụng tài sản, nguồn lực của mình, ví dụ nguồn nhân lực của doanh nghiệp (Alchian và Demsetz, 1973).

Thứ ba, một tài sản có thể có nhiều chủ sở hữu và mỗi chủ sở hữu có lợi ích khác nhau đối với tài sản đó (Alchian và Demsetz, 1973). Ví dụ, một bên có quyền canh tác đất đai, một bên khác (thường là Nhà nước) sở hữu một công trình nằm trên hay ngang qua khu đất đó hoặc quyền sử dụng đất đai đó vào mục đích đặc biệt. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, khi quyền sở hữu và sở hữu thực tế hay quyền sử dụng có thể tách rời, không gắn liền với nhau.

Thứ tư, thực hiện quyền sở hữu phụ thuộc vào quá trình ra quyết định sử dụng tài sản, nguồn lực của doanh nghiệp. Trong trường hợp có nhiều chủ sở hữu, quyết định sử dụng tài sản sẽ được thống nhất giữa các chủ sở hữu; ví dụ thông qua bỏ phiếu, và mặc dù việc bỏ phiếu mang tính chất cá nhân, nhưng quyết định sử dụng nguồn lực lại phụ thuộc vào mô hình bỏ phiếu (Alchian và Demsetz, 1973). Ví dụ đối với thị trường bất động sản, chúng ta có thể bắt gặp mô hình này dưới dạng các hợp đồng thuê nhà chung hay các dạng nhà tập thể, chung cư; quyền sở hữu đối với tài sản thuộc về tất cả các thành viên và quyết định sử dụng do các thành viên hoặc đại diện hộ gia đình thống nhất.

Thứ năm, giá trị của quyền sở hữu phụ thuộc vào cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyển như tòa án, cảnh sát, ngành pháp lý, khảo sát thị trường, hệ thống lưu trữ hồ sơ;… (Feder và Feeny, 1991). Trong thực tế, việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu rất tốn kém, vì vậy các quyền sở hữu thường chỉ được các cơ quan này phân tích chi tiết khi tài sản có giá trị cao (Barzel, 1989). Do các tài sản có giá trị này được nhiều người quan tâm hơn, lợi nhuận thu được từ các giao dịch cũng cao hơn và sẽ được tối đa hóa khi giá trị quyền sở hữu được xác định chính xác. Như vậy, giá trị quyền sở hữu cũng phụ thuộc vào cấu trúc hay hệ thống các quyền sở hữu.

2.2. Phân loại các quyền sở hữu

2.3. Vai trò của quyền sở hữu đối với doanh nghiệp

2.4. Lợi ích cá nhân và hợp tác trong lao động gắn với các quyền sở hữu

3. Các loại hình tổ chức theo thuyết quyền sở hữu

3.1. Doanh nghiệp tư bản gắn với chủ sở hữu

Các doanh nghiệp cổ điển và nhỏ thường gắn với một hoặc một số chủ sở hữu, thường gọi là chủ doanh nghiệp, cũng đồng thời là người quản lý trực tiếp và vận hành doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp, trong doanh nghiệp của mình, có các quyền được thể hiện rõ qua học thuyết về quyền sở hữu khi họ đầu tư các phương tiện thuộc quyền sở hữu của mình vào doanh nghiệp, từ đó dẫn tới những chi phí ẩn, nhưng cũng chứng thực nguồn thu nhập của họ. Mặt khác, những người chủ này cũng chiếm hữu lợi nhuận thu về từ doanh nghiệp.

3.1.1. Quyền sơ hữu của chủ doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp ký kết các hợp đồng nhằm đảm bảo vận hành hoạt động của doanh nghiệp. Với tư cách nhà sản xuất, họ ký với các chủ sở hữu các phương tiện, nguồn lực sản xuất; với tư cách người bán, họ quan hệ hợp đồng với khách hàng, người đại diện, bán buôn hay bán lẻ. Những hợp đồng ký kết này không chỉ liên quan đến việc trao đổi tiền – hàng (hàng hóa, dịch vụ), mà còn gồm cả quyền sử dụng chúng, theo một cách nào đó, trong một khoảng thời gian nào đó. Mặt khác, chủ doanh nghiệp cũng đứng ra tuyển mộ nhân viên bằng các hợp đồng lao động mua quyền bổ dụng những người này thực hiện nhiệm vụ nào đó, trong một khoảng thời gian xác định (Kœnig, 1998, p8). Các quyền này, thể hiện qua sự kiểm soát của chủ doanh nghiệp, hình thành quyền sở hữu của họ (Furnbotn và Pejovich, 1972). Ngược với những khái niệm cổ điển luật La Mã, luật quyền sở hữu không áp dụng trong khuôn khổ quan hệ giữa người – hàng, mà chủ yếu áp dụng trong các mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tồn tại hàng hóa, dịch vụ và sử dụng chúng.

Cụ thể, chủ doanh nghiệp có các quyền sở hữu sau (Kœnig, 1998, p9):

  • Quyền thu các nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất. Thu nhập này chính bằng chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi dùng thuê mua các hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho sản xuất, và được xách định trong các hợp đồng đã ký kết;
  • Quyền tăng hay giảm lực lượng sản xuất thông qua việc chấm dứt hay ký kết thêm hợp đồng. Tuy nhiên, quyền này bị giới hạn bởi pháp luật hoặc bởi những cam kết cá nhân;
  • Quyền chuyển nhượng hai quyền trên cho người chủ khác;
  • Quyền vượt trội về kiểm soát cho phép chủ doanh nghiệp ra các quyết định liên quan đến việc sử dụng và xếp đặt các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong mọi trường hợp ngoài dự kiến hợp đồng, theo các tập quán hay pháp luật.

Tóm lại, tập hợp các quyền trên xác định các quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp.

3.1.2. Chi phí ẩn và những đóng góp của chủ doanh nghiệp

Đầu tư vào các phương tiện, nguồn lực trong doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải chịu một chi phí cơ hội tương đương với những gì có thể thu được từ việc sử dụng chúng cho các hoạt động khác, vốn có thể hiệu quả hơn. Các chi phí này được gọi là các chi phí ẩn ngoài hợp đồng của doanh nghiệp, cụ thể gồm các loại sau (Kœnig, 1998, p9-10):

  • Lợi tức ngầm từ vốn tài chính đầu tư vào doanh nghiệp dưới hình thức trực tiếp tạo ra hay duy trì lợi nhuận từ vốn. Thực tế, đầu tư khoản tiền vốn này vào doanh nghiệp, chủ sở hữu đã bỏ lợi nhuận có thể thu từ đầu tư hay gửi ở những nơi có lợi nhất (đầu tư lĩnh vực khác, gửi ngân hàng);
  • Tiền thù lao của chủ doanh nghiệp (cho các công việc mà anh ta làm) tương đương với tiền lương cao nhất mà anh ta có thể thu được nếu bán dịch vụ này hay làm thuê cho người khác;
  • Tô tức ngầm từ sự quý hiếm của các tài sản, như đất đai, sử dụng bởi doanh nghiệp. Các nguồn thu này có thể ước tính so sánh với thu nhập có thể nếu cho thuê chúng.

Các chi phí ẩn trên giải thích và chứng minh quyền chiếm hữu lợi nhuận doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp.

3.1.3. Chiếm hữu lợi nhuận

Lợi nhuận doanh nghiệp là chênh lệch giữa tổng thu và các chi phí ẩn và minh bạch. Doanh nghiệp phải trả những chi phí minh bạch cho việc thuê mua các phương tiện, nguồn lực cần thiết (nhân viên, nguyên vật liệu …), cũng như các chi phí xã hội và pháp luật liên quan như bảo hiểm xã hội, thuế (Kœnig, 1998, p10).

Hành vi chiếm hữu lợi nhuận thuần của chủ doanh nghiệp được biện luận từ nhiều lý do, đặc biệt từ các hoạt động sáng tạo hay mạo hiểm chấp nhận rủi ro trong một môi trường đầu tư bất ổn của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, lợi nhuận thu hút các nhà đầu tư khác thâm nhập vào lĩnh vực này, dẫn đến làm giảm lợi nhuận của mọi doanh nghiệp. Trong dài hạn, lợi nhuận này tiến gần về bằng 0, đồng nghĩa rằng không còn doanh nghiệp mới nào đầu tư vào lĩnh vực này nữa, chủ doanh nghiệp chi còn các nguồn thu từ chi phí ẩn như đã trình bày trong phần trên.

Mặt khác, trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, một vài quyền sở hữu đặc biệt mang lại vị thế cạnh tranh vượt trội cho doanh nghiệp so với các đối thủ khác, như độc quyền về đất đai, bằng sáng chế … Nhờ vậy, chủ doanh nghiệp cũng có thể thu được lợi nhuận lâu dài (Kœnig, 1998, p10).

3.2. Doanh nghiệp hiện đại

3.3. Các doanh nghiệp chịu sự điều tiết

3.4. Doanh nghiệp phi lợi nhuận

3.5. Doanh nghiệp theo mô hình xã hội chủ nghĩa

Nguồn: Phan Thanh Tú, Vũ Mạnh Chiến, Phạm Văn Kiệm, Lưu Đức Tuyến, Nguyễn Thị Hồng Nga (2018), “Chương 2: Thuyết quyền sở hữu”, trong sách Học Thuyết Doanh Nghiệp, NXB Lao Động – Xã Hội, trang 43-57.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *