Thuyết hành vi doanh nghiệp

Thuyết hành vi doanh nghiệp do Cyert và March (1963) đề xuất dựa trên tiền đề nghiên cứu của Simon (1952) và March và Simon (1958). Học thuyết tập trung làm rõ quá trình ra quyết định kinh doanh thực tế và chỉ ra phương thức doanh nghiệp ra các quyết định đó.

1. Các khái niệm cơ bản

2. Nội dung chính của học thuyết

2.1. Các cam kết

2.2. Thuyết thành phần

2.3. Các nội dung chính của học thuyết

Quá trình ra quyết định của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt Cyert và March (1963) đã sử dụng bốn khái niệm để mô tả lý thuyết ra quyết định của họ, bao gồm: (1) giải quyết xung đột (quasi resolution of conflict), (2) né tránh sự không chắc chắn (uncertainty avoidance), (3) tìm cách giải quyết vấn đề (problemistic search), và (iv) tổ chức học hỏi (organizational learning).

(1) Giải quyết xung đột (Quasi resolution of conflict): Cyert và March (1963) cho rằng sự xung đột mục tiêu giữa các nhóm liên kết trong doanh nghiệp luôn tồn tại và phát triển. Xung đột có thể nảy sinh do một số nguyên nhân như thay đổi điều kiện môi trường; sự khác biệt giữa các mục tiêu cá nhân của nhà quản lý trong doanh nghiệp; và sự khác biệt giữa các mục tiêu quản lý cá nhân và các mục tiêu của nhiều bên liên quan khác của doanh nghiệp. Nguồn lực dự trữ cho phép tổ đáp ứng với các điều kiện môi trường khác nhau và sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, cá nhân và mục tiêu của các bên liên quan. Ngoài ra, việc giải quyết xung đột mục tiêu không phải nhằm biến chúng thành một mục tiêu thống nhất mà cần phải hợp lý hoá các bộ phận trong doanh nghiệp và sắp xếp mục tiêu theo thứ tự ưu tiên để giải quyết xung đột này.

(2) Né tránh sự không chắc chắn (uncertainty avoidance): Một giả định khác của thuyết hành vi doanh nghiệp liên quan đến việc né tránh sự không chắc chắn. Không chắc chắn là tình trạng bất kì doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt khi ra quyết định. Các vấn đề như tình hình phát triển thị trường, thái độ của cổ đông, sự thay đổi luật pháp trong tương lai … đều làm cho các quyết định của doanh nghiệp đối mặt với sự không chắc chắn. Phần lớn các học thuyết liên quan đến việc ra quyết định của doanh nghiệp đều tập trung tìm hiểu cách thức để người ra quyết định có thể chắc chắn với các quyết định của mình trong hoàn cảnh không chắc chắn. Cyert và March (1963) nghiên cứu sử dụng các phương thức khác nhau để né tránh những vấn đề không chắc chắn. Họ sử dụng phương thức ra quyết định chú trọng vào những phản hồi của vấn đề trong giai đoạn ngắn để có những quyết định mang tính ngắn hạn. Bên cạnh đó, các tác giả cho rằng doanh nghiệp cần xem xét môi trường bên ngoài trong quá trình thoả thuận, đàm phán để né tránh sự không chắc chắn.

(3) Tìm cách giải quyết vấn đề (problemistic search): Khi tìm cách giải quyết vấn đề gặp phải, trước hết doanh nghiệp cần khai thác mô hình nhân quả đơn giản nhất. Khi mô hình đơn giản này không thể giải quyết được vấn đề, doanh nghiệp cần tìm mô hình phức tạp hơn để giải quyết. Trong quá trình tìm kiếm, doanh nghiệp cần chú ý tránh một số vấn đề. Cụ thể, doanh nghiệp không sử dụng kinh nghiệm và mục tiêu quá khứ để nhìn nhận vấn đề hiện tại nhằm tránh phản ánh không đúng tình hình thực tế. Bên cạnh đó, doanh nghiệp không để mong muốn cá nhân bị lẫn lộn với thực tiễn; đặc biệt không để những xung đột nội bộ khiến quá trình trao đổi thông tin bị sai lệch.

(4) Học hỏi tổ chức (organizational learning): Thuyết hành vi doanh nghiệp của Cyert và March (1963) cho rằng học hỏi trong doanh nghiệp là một tính năng của sự thích nghi doanh nghiệp bằng cách xem các doanh nghiệp là các “hệ thống học hỏi thích nghi”, trong đó hành vi là do thủ tuc, thói quen và học hỏi gia tăng. Lý thuyết học hỏi giải thích làm thế nào cá nhân, tổ chức của họ thu thập, xử lý, phân phối, tích hợp và xóa các thông tin liên kết chức năng. Một số giả định được đề xuất khi nghiên cứu vấn đề này, bao gồm học hỏi xảy ra trên nhiều cấp độ, xảy ra thông qua cơ chế học hỏi nhiều, học hỏi góp phần vào thành công của doanh nghiệp thông qua quá trình thích ứng và khai thác và tỷ lệ học có thể tác động tích cực và tiêu cực đến doanh nghiệp. Học hỏi trong doanh nghiệp tập trung nghiên cứu phương pháp, cách thức, nội dung, các tác động của việc học lên hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Học hỏi trong doanh nghiệp không đơn giản là các khóa huấn luyện kỹ năng mà tập trung xây dựng văn hóa học hỏi trong doanh nghiệp, văn hóa tự hoàn thiện, và ham thích sáng tạo.

2.4. Cấu trúc cơ bản của quá trình ra quyết định của doanh nghiệp

Các nội dung giải quyết xung đột, né tránh sự không chắc chắn, giải quyết vấn đề, và doanh nghiệp học hỏi là trung tâm của mô hình cấu trúc ra quyết định của doanh nghiệp. Cấu trúc cơ bản của quá trình ra quyết định của doanh nghiệp cụ thể như sau:

Hình 10: Quá trình ra quyết định của doanh nghiệp

á trình ra quyết định của doanh nghiệp

Nguồn: Cyert và March (1963, p.126)

Quá trình ra quyết định của doanh nghiệp bắt đầu tại thời điểm doanh nghiệp nhận phản hồi về các quyết định trong quá khứ. Do quá trình ra quyết định liên tục, thời điểm bắt đầu quá trình ra quyết định cũng mang tính chất liên tục. Quy trình trên cho biết trình tự các bước ra quyết định đối với một quyết định cụ thể và mục tiêu cụ thể của một tiểu đơn vị (phòng ban) trong doanh nghiệp. Các quyết định khác của các tiểu đơn vị khác phục vụ các mục tiêu khác sẽ được thực hiện song song với quyết định này. Các kết nối lỏng lẻo giữa các tiểu đơn vị và các quyết định được đảm bảo bởi phản hồi về môi trường và bằng cách mở rộng tìm kiếm.

3. Phân tích hành vi của nhà quản lý và nhà đầu tư

3.1. Phân tích hành vi các nhà quản lý

3.1.1. Tư tưởng quản lý và tối đa hoá lợi nhuận

3.1.2. Mô hình tạo động lực

3.2. Phân tích hành vi các nhà đầu tư

3.2.1. Phân tích hành vi nhà đầu tư tiếp cận theo lý thuyết thị trường hiệu quả

3.2.1.1. Mô hình xây dựng và lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu
3.2.1.2. Mô hình định giá tài sản CAPM
3.2.1.3. Mô hình ba nhân tố Fama-French
3.2.1.3. Mô hình định giá quyền chọn (OPM)

3.2.2. Phân tích hành vi nhà đầu tư tiếp cận theo lý thuyết tài chính hành vi

Hình 12: Các lỗi hành vi của nhà đầu tư

Các lỗi hành vi của nhà đầu tư

Nguồn: Hirshleifer (2001)

Nguồn: Phan Thanh Tú, Vũ Mạnh Chiến, Phạm Văn Kiệm, Lưu Đức Tuyến, Nguyễn Thị Hồng Nga (2018), “Chương 6: Thuyết hành vi doanh nghiệp”, trong sách Học Thuyết Doanh Nghiệp, NXB Lao Động – Xã Hội, trang 104-122.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *